Nhóm thuốc chống trầm cảm sử dụng cho phụ nữ mang thai

11/01/17 11:23
Do áp lực cuộc sống mà số người mắc bệnh trầm cảm đang có xu hướng tăng. Bệnh trầm cảm nếu không được phát hiện và điều trị kịp thời sẽ để lại những hậu quả nghiêm trọng. Hiện nay, biện pháp dùng thuốc là phổ biến nhất trong điều trị bệnh trầm cảm, tuy nhiên với phụ nữ bị trầm cảm mà đang có thai hoặc dự định mang thai thì phải thận trọng khi dùng thuốc vì có thể gây nhiều nguy cơ với thai nhi.

Dưới đây là thông tin một số loại thuốc chống trầm cảm sử dụng cho phụ nữ mang thai giúp bạn đọc tham khảo.

Nhóm thuốc chống trầm cảm 3 vòng

Amitriptyline: Nhóm C.

Thí nghiệm trên động vật, amitriptyline cho thấy có nhiều loại dị tật bẩm sinh khi dùng ở liều từ 8 đến gấp 33 lần liều tối đa được đề nghị cho con người (Maximum Recommended Human Dose-MRHD). Một số trường hợp dị tật bẩm sinh, bao gồm cả các khuyết tật giảm chi ở trẻ sơ sinh có mẹ uống thuốc chống trầm cảm ba vòng trong thời kỳ mang thai đã được báo cáo, mặc dù không có bằng chứng vững chắc được thiết lập. Hội chứng cai ở trẻ sơ sinh cũng đã được báo cáo, không có dữ liệu đối chứng trong thời kỳ mang thai của con người. Hội chứng cai ở trẻ sơ sinh bao gồm run, rối loạn tiêu hóa hoặc giấc ngủ, tăng trương lực cơ, khóc the thé...

Amitriptyline chỉ được đề nghị để sử dụng trong thời kỳ mang thai khi không có lựa chọn thay thế và lợi ích cao hơn nguy cơ.

Clomipramine: Nhóm C

Các nghiên cứu trên động vật đã báo cáo sự gia tăng hiệu ứng không đặc hiệu của độc tính trên bào thai với liều gấp 10 lần MRHD. Ở người, cả hai triệu chứng cai và độc tính clomipramine đã được báo cáo ở trẻ sơ sinh có mẹ dùng thuốc trong thời kỳ mang thai. Cụ thể: suy hô hấp, thở nhanh, tím tái, hạ thân nhiệt, ngủ lịm, run, giảm trương lực cơ, toát mồ hôi, bồn chồn, và động kinh đã được báo cáo ở trẻ sơ sinh.

Clomipramine chỉ nên được sử dụng trong thai kỳ khi không có sự lựa chọn thay thế nào khác.

Imipramine: Nhóm N

Một số trường hợp dị tật bẩm sinh, bao gồm các khuyết tật giảm chi, ở trẻ sơ sinh có mẹ uống imipramine trong khi mang thai đã được báo cáo, mặc dù không có sự liên kết của những bằng chứng được thiết lập một cách vững chắc. Triệu chứng cai ở trẻ sơ sinh cũng đã được báo cáo. Không có số liệu đối chứng trong thời kỳ mang thai.

Imipramine chỉ nên được sử dụng  trong thời kỳ mang thai khi không có lựa chọn thay thế và lợi ích cao hơn nguy cơ.

Nhóm SSRI

Fluoxetine: Nhóm C

Trẻ sơ sinh có tiếp xúc với fluoxetin và các SSRI hoặc SNRI trong ba tháng cuối thai kỳ đã có những biến chứng cần nhập viện gồm hỗ trợ hô hấp và nuôi ăn qua ống.

Fluoxetine chỉ được đề nghị cho sử dụng trong khi mang thai khi lợi ích lớn hơn nguy cơ.

Citalopram: Nhóm C

Kết quả của một nghiên cứu so sánh (n = 396 phụ nữ mang thai) chỉ ra rằng, sử dụng citalopram trong thời kỳ phôi thai không có liên kết với một nguy cơ rõ ràng gây quái thai ở người.

Tuy nhiên, citalopram chỉ nên được đưa ra trong thời kỳ mang thai và đặc biệt là trong ba tháng cuối thai kỳ khi lợi ích tiềm năng lớn hơn những nguy cơ tiềm ẩn đối với thai nhi.

Escitalopram: Nhóm C

Escitalopram là một đồng phân quang học đối hình của citalopram nên các ảnh hưởng trên thai nhi tương tự như citalopram. Hiện không có dữ liệu trên phụ nữ có thai.

Escitalopram chỉ nên sử dụng khi lợi ích cao hơn nguy cơ.

Paroxetine: Nhóm D

Một nghiên cứu đã báo cáo rằng paroxetine không cho thấy có liên quan với nguy cơ tăng khuyết tật tim mạch sau khi sử dụng trong thai kỳ sớm, cũng tương đương tỷ lệ trong hơn 3.000 trẻ sơ sinh khỏe mạnh trong dân số là khoảng 1%. Ảnh hưởng trên trẻ sơ sinh đã phù hợp với một hiệu ứng độc hại trực tiếp hoặc là một hội chứng cai thuốc. Trong một số trường hợp, hình ảnh lâm sàng đã phù hợp với hội chứng serotonine.

Paroxetine được khuyến cáo không nên dùng cho phụ nữ có thai.

Sertraline: Nhóm C

Một trường hợp nghi ngờ triệu chứng cai ở trẻ sơ sinh trên bà mẹ sử dụng sertraline từ ba tháng giữa đến hết thai kỳ đã được báo cáo. Các triệu chứng trẻ sơ sinh bao gồm kích động, bồn chồn, kém ăn, quấy khóc, mất ngủ và tăng phản ứng giật mình. Kết quả của một nghiên cứu chỉ ra rằng 30% trẻ sơ sinh có thời gian tiếp xúc kéo dài với SSRI trong tử cung (với một liều có đáp ứng thông thường) có hội chứng cai ở trẻ sơ sinh (ví dụ như run, rối loạn tiêu hóa hoặc giấc ngủ, tăng trương lực cơ, khóc the thé) sau khi sinh. Các tác giả cho rằng trẻ sơ sinh tiếp xúc với SSRI cần được theo dõi chặt chẽ trong vòng ít nhất là 48 giờ sau khi sinh. Ảnh hưởng của sertraline trong thời kỳ mang thai và sinh ở người là không rõ.

Sertraline chỉ nên sử dụng trong thời kỳ mang thai khi lợi ích cao hơn nguy cơ.

Fluvoxamine: Nhóm C.

Các nghiên cứu trên động vật đã không tiết lộ bằng chứng gây quái thai. Fluvoxamine chỉ nên được đưa ra trong thời gian mang thai khi lợi ích giá trị hơn nguy cơ.

Nhóm SNRI

Venlafaxine: Nhóm C

Chỉ nên sử dụng venlafaxine khi rõ ràng cần thiết và lợi ích là cao hơn nguy cơ tiềm ẩn.

Desvenlafaxine: Nhóm C

Bệnh nhân nên thông báo cho bác sĩ của mình nếu họ có thai hoặc dự định có thai trong khi điều trị.

Desvenlafaxine nên được sử dụng trong khi mang thai nếu lợi ích tiềm năng biện minh cho những rủi ro tiềm năng.

Nhóm NaSSA

Mirtazapine: Nhóm C

Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy không có dấu hiệu của tác dụng gây quái thai ở liều gấp 20 lần MRHD, có sự gia tăng các trường hợp tử vong trên chuột sơ sinh trong ba ngày đầu tiên và giảm cân nặng khi sinh.

Mirtazapine chỉ nên được đưa ra trong thời kỳ mang thai khi lợi ích điều trị lớn hơn nguy cơ.

Nhóm thuốc chống trầm cảm không xếp loại

Bupropion: Nhóm C

Bupropion chỉ nên sử dụng trong thời kỳ mang thai khi lợi ích giá trị hơn nguy cơ.

Trazodone: Nhóm C .

Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy sẩy thai sớm ở chuột và tăng dị tật bẩm sinh ở thỏ với liều 15 đến 50 lần MRHD. Không có số liệu đối chứng trong thời kỳ mang thai.

Trazodone chỉ nên được đưa ra trong thời kỳ mang thai khi lợi ích giá trị hơn nguy cơ.

Nefazodone: Nhóm C

Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy tỷ lệ tử vong sớm và giảm trọng lượng khi sinh. Không có số liệu đối chứng trong thời kỳ mang thai.

Nefazodone chỉ nên được đưa ra trong thời kỳ mang thai khi lợi ích giá trị hơn nguy cơ.

Nhóm MAOI

Phenelzine: Nhóm C

Các nghiên cứu trên động vật đã cho thấy bằng chứng về sẩy thai ở giai đoạn phôi và chậm tăng trưởng. Không có số liệu đối chứng trong thời kỳ mang thai ở người.

Phenelzine chỉ được đề nghị cho sử dụng trong thai kỳ khi không có lựa chọn thay thế và lợi ích cao hơn nguy cơ.

Isocarboxazid: Nhóm C

Isocarboxazid chỉ nên sử dụng trong thời kỳ mang thai khi lợi ích giá trị hơn nguy cơ.

Tranylcypromine: Nhóm N

Tranylcypromine không khuyến cáo sử dụng cho phụ nữ có thai.

BS. CKII Huỳnh Thanh Hiển - BS. Cao Tiến Đức

Theo: suckhoedoisong.vn

11/01/17 11:23

Bài viết chưa có bình luận nào.

lên đầu trang